|
Một bức thư phúc đáp khắp nơi
Lời văn tuy quê thuật, nhưng nghĩa lư vẫn căn cứ
trong kinh
Nếu có ai y theo đây mà làm, sự lợi ích sẽ rộng lớn
vô cùng!
Ấn Quang pháp sư
- 1 -
Pháp môn Tịnh Độ
trùm khắp cả ba căn, gồm thâu hàng lợi độn, là đại pháp
của đức Như Lai, để mở phương tiện cho tất cả thánh phàm
đều được giải thoát sanh tử, lên ngôi Bất Thối ngay
trong hiện đời. Với pháp mầu nhiệm đặc biệt nầy mà không
tin không tu, thật là đáng thương, đáng tiếc!!
Pháp môn Tịnh Độ
lấy tín, nguyện, hạnh làm tông chỉ.
Tín là ta phải tin
cơi Ta Bà có vô lượng sự khổ; tin cơi Cực Lạc có vô
lượng điều vui; tin ta là phàm phu đầy nghiệp lực, quyết
không thể nương cậy vào sức ḿnh để dứt hoặc chứng chơn,
thoát sanh tử ngay trong hiện đời; tin Phật A Di Đà có
lời thề nguyền rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm danh
hiệu Ngài, cầu về nước Ngài, khi mạng chung sẽ được Ngài
tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc.
Nguyện là ta nên
nguyện mau ra khỏi thế giới nầy, nguyện sớm sanh về cơi
vui kia.
Hạnh là ta phải
chí thành khẩn thiết niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật, mỗi
thời mỗi khắc đừng để tạm quên, tùy theo hoàn cảnh gấp
hoăn lập một khóa tŕnh, sớm tối lễ bái tŕ tụng trước
bàn Phật. Ngoài thời khóa tụng, những khi đi, đứng, nằm,
ngồi và làm những công việc không dụng tâm, đều nên niệm
Phật. Lúc ngủ nghỉ phải niệm thầm, không nên ra tiếng và
chỉ niệm bốn chữ A Di Đà Phật để dễ nhiếp tâm. Lại,
những khi y phục không chỉnh tề, hoặc giặt rửa, tắm gội,
đại tiểu tiện, cho đến lúc đi ngang qua chỗ không sạch
sẽ, cũng đều phải niệm thầm. Chí tâm niệm thầm, công đức
cũng đồng như niệm ra tiếng. Trong những lúc ấy nếu niệm
ra tiếng th́ chẳng hợp nghi thức và có lỗi không cung
kính. Không luận niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim
Cang hoặc niệm thầm, đều phải trong tâm ghi nhớ rành rẽ
rơ ràng, miệng niệm rành rẽ rơ ràng và hai tai nghe rành
rẽ rơ ràng. Niệm như thế th́ tâm không c̣n dong ruổi
theo cảnh ngoài, vọng tưởng lần dứt, câu niệm Phật lần
thuần, công đức rất lớn.
- 2 -
Người niệm Phật
phải hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi
không giết hại, tu mười nghiệp lành (Thân không sát
sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng không nói dối, nói thêu
dệt, nói đôi chiều, nói hung ác; ư không tham dục, giận
hờn, ngu si, tà kiến). Lại cần phải: cha lành, con thảo,
anh em thương kính, chồng vợ thuận ḥa, chủ nhân, tớ
trung, mỗi người đều giữ tṛn bổn phận. Ta chỉ nên làm
hết nhiệm vụ ḿnh, đừng so đo phiền trách người khác đối
với ḿnh có trọn cùng không. Nếu người nào đối với gia
đ́nh xă hội làm tṛn thiên chức, đó là người lành. Người
lành mà niệm Phật th́ dễ có cơ cảm, quyết định khi lâm
chung được Phật tiếp dẫn sanh về Tây Phương v́ tâm hạnh
hợp với Phật. Trái lại, những ai miệng tuy niệm Phật,
song ḷng không nhiễm đạo, đối với cha mẹ, anh em, vợ
chồng, con cái, bạn bè làng xóm không tṛn bổn phận th́
tâm hạnh trái với Phật, khó được văng sanh. Tại sao thế?
Bởi người ấy tâm không điềm tịnh thuần ḥa, tự sanh ra
mối năo phiền chướng ngại, nên khó được cảm thông với
Phật, đó cũng là lẽ tất nhiên.
- 3 -
Người niệm Phật
nên khuyên thân bằng quyến thuộc và tất cả đồng nhân đều
niệm Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
(Mỗi ngày như niệm Phật 1.000 câu th́ niệm Quán Âm 500
câu, niệm Phật 10.000 câu th́ niệm Quán Âm 5.000 câu.
Niệm nhiều ít so theo đây mà gia giảm). Ta đă t́m được
con đường giải thoát yên ổn, lại nỡ nào để cho đấng sanh
thành, người quyến thuộc cùng tất cả đồng nhân mất sự
lợi ích lớn, ch́m trong biển khổ ư? Huống chi giữa cơi
đời nhiều hoạn nạn, khó tránh sự hiểm nguy như hiện nay,
nếu có thể thường niệm Phật và Quán Âm, tất sẽ được
lượng từ bi ủng hộ, gặp dữ hóa lành. Giả sử không tai
nạn mà chí tâm tŕ niệm, cũng sẽ được nghiệp tiêu trí
sáng, chướng hết phước nhiều. Hơn nữa, khuyên người niệm
Phật cầu sanh Tây Phương, tức là thành tựu kẻ phàm phu
làm Phật, công đức rất lớn, đem công đức ấy hồi hướng
văng sanh tất sẽ măn nguyện.
- 4 -
Người niệm Phật
khi tụng kinh, tŕ chú, lễ bái, sám hối, cứu tai nạn,
giúp kẻ nghèo, tất cả công đức lành đều phải hồi hướng
văng sanh Tây Phương, không nên cầu hưởng phước báo ở
cơi trời, cơi người, trong hiện tại hoặc đời sau. Nếu có
tâm niệm ấy th́ mất phần văng sanh và phải bị ch́m đắm
trong biển luân hồi khổ năo. Nên biết, hưởng phước càng
nhiều tất gây nghiệp càng lớn, qua một đời sau nữa quyết
khó khỏi đọa vào đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Chừng ấy muốn trở lại làm thân người, được nghe pháp
hiện đời giải thoát của môn Tịnh Độ, c̣n khó hơn lên
trời. Phật dạy chúng sanh niệm Phật cầu về Tây Phương,
là v́ chúng sanh mà giải quyết vấn đề sanh tử ngay trong
hiện kiếp. Nếu chỉ cầu đời sau hưởng phước báo ở cơi
nhân thiên tức là trái với lời Phật dạy, như đem hạt bảo
châu vô giá đổi lấy một thẻ đường để ăn, há chẳng đáng
tiếc lắm ư? Kẻ tối tăm niệm Phật không cầu văng sanh mà
cầu hưởng phước báo, cũng như đây không khác.
- 5 -
Người niệm Phật
không nên tập theo lối tham cứu của nhà tu Thiền. V́ kẻ
tu Thiền hầu hết đều không chú trọng về việc tín nguyện
văng sanh. Dù có niệm Phật, họ chỉ chú trọng vào câu
'Niệm Phật đó là ai?' để cầu khai ngộ mà thôi. Ta chỉ
nên niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khi được thấy đức A
Di Đà lo ǵ không khai ngộ? Nếu ở cơi này tu Thiền, như
hoặc nghiệp dứt hết th́ có thể thoát sanh tử; thảng như
hoặc nghiệp chưa dứt th́ đă không thể cậy vào sức ḿnh
để giải thoát, lại v́ không tín nguyện nên không được
nương nhờ sức Phật ra khỏi luân hồi. Hai bên tự lực và
Phật lực đều không nhờ cậy được, người ấy đâu thể nào
thoát khỏi trần lao? Nên biết bậc pháp thân Bồ Tát khi
chưa thành Phật đều phải nhờ oai lực của Phật, huống chi
ta là phàm phu đầy nghiệp chướng mà ưa luận về sức ḿnh,
không cầu sức Phật ư? Lời ấy tuy cao, song xét lại hành
vi thật là thấp kém! Sự hơn kém của Phật lực và tự lực
khác xa nhau như trời vực, nguyện đồng nhân nên thể tất
nghĩa nầy!
- 6 -
Người niệm Phật
không nên bắt chước kẻ ngu tối, làm những việc hoàn thọ
sanh, gởi kho. Bởi sự hoàn thọ sanh trong Kinh Phật
không có nói, do người sau bày đặt ra. C̣n gởi kho là
muốn cho ḿnh khi chết rồi thành quỷ, nên mới sắm trước
tiền của đồ vật cho thân quỷ dùng. Đă có tâm niệm muốn
làm quỷ th́ khó được văng sanh. Như người nào chưa làm
th́ thôi, nếu đă làm, phải bạch rơ trước bàn Phật như
vầy: 'Đệ tử là... chỉ cầu văng sanh, những đồ minh khố
đă gởi khi trước, xin đem chẩn tế cho cô hồn.' Như thế
mới không chướng ngại cho sự sanh về cơi Phật.
Lại những thứ
kinh: Thọ Sanh, Huyết Bồn, Thái Dương, Thái Âm, Nhăn
Quang, Táo Vương, Thai Cốt, Phân Châu, Diệu Sa... đều là
kinh ngụy tạo, không phải kinh của Phật nói, không nên
tŕ tụng. Những kẻ quê tối, không chịu tụng Kinh Đại
Thừa (như các kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng
Thọ, Tâm Kinh, Kim Cang, Pháp Hoa, Dược Sư, Lăng Nghiêm,
Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm v.v...) mà chỉ tin
các thứ kinh ngụy tạo ấy, muốn làm những việc hoàn thọ
sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ, mới yên tâm. Nếu có
người hiểu Phật Pháp khuyên bảo nói đó là những kinh
ngụy tạo, họ cũng không nghe lời. Nên biết, làm các Phật
sự, chỉ có niệm Phật là công đức rộng lớn, nên đem số
tiền hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ ấy, thỉnh
những vị tăng chơn chánh niệm Phật cho th́ được lợi ích
rất nhiều.
- 7 -
Người niệm Phật
nên ăn chay trường, như chưa được thế, th́ giữ lục trai
hoặc thập trai, để lần lần bỏ hẳn các thứ thịt của chúng
sanh, mới là hợp lư. Lục trai là các ngày: mùng 8, 14,
15, 23, 29, 30; nếu thêm vào đó mấy ngày: mùng 1, 18,
24, 28 th́ thành ngày thập trai. Những tháng thiếu, nên
ăn trước một ngày. Lại, tháng giêng, tháng năm, tháng
chín là ba trai nguyệt, nên ăn chay trường và làm các
việc công đức. Dù chưa ăn chay được, cũng nên mua thịt
cá đă làm sẵn, chớ sát sanh trong nhà. Nếu mỗi ngày sát
sanh th́ cái nhà ấy đă thành ḷ sát sanh, là chỗ oan quỷ
tụ hội, không được an lành. Cho nên sát sanh trong nhà
là điều rất cấm kỵ.
- 8 -
Người niệm Phật
nên khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Muốn
cho cha mẹ khi lâm chung quyết định được văng sanh th́
phải dặn trước người quyến thuộc về cách trợ niệm và chớ
nên khóc lóc cùng bày vẽ những điều vô ích. Lại, lúc
b́nh thời phải v́ cha mẹ giảng rơ sự lợi ích của môn
niệm Phật khiến cho song thân thường niệm không quên.
Thế th́ chẳng những cha mẹ được lợi ích, mà quyến thuộc
hiện tại hoặc con cháu đời sau cũng được ảnh hưởng giải
thoát an lành. Về phương pháp trợ niệm khi lâm chung,
không luận già trẻ, đều phải làm đúng như thế.
- 9 -
Người nữ khi sắp
sanh thường bị đau khổ không kham, có khi vài ngày sanh
không được, hoặc chết v́ sản nạn. Có người tuy sanh được
nhưng lại bị huyết băng và nhiều bệnh nguy hiểm. Đứa con
sanh ra th́ bị các chứng cấp nạn, kinh phong v.v... Cho
nên, người nữ lúc sanh sản, nên chí thành khẩn thiết
niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Khi niệm cần phải to
tiếng, không nên niệm thầm, v́ niệm thầm do tâm lực kém
nên sức cảm ứng cũng kém. Lại trong lúc ấy sản phụ đang
dùng sức sanh đứa bé ra, nếu niệm thầm th́ nín ép hơi
phải mang bệnh. Nếu chí thành khẩn thiết mà niệm, quyết
không có sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ
khỏi bệnh kinh phong, và các chứng nguy hiểm khác. Dù
gặp trường hợp khó sanh, có nguy hiểm đến tánh mạng, sản
phụ cùng những kẻ hộ sanh cũng phải đồng to tiếng niệm
Quán Âm. Người quyến thuộc tuy ở nơi khác đều phải v́
sản phụ niệm giúp. Như thế, không đầy giây phút, sản phụ
liền được yên ổn mà sanh. Kẻ ngoại đạo không rơ lư nầy,
chấp chặt một việc cung kính, chẳng biết căn cứ theo sự
mà luận lư, khiến cho mấy bà lăo niệm Phật xem sanh sản
là việc đáng sợ, cho đến dâu con của ḿnh sanh cũng
không dám qua săn sóc, huống chi là niệm Quán Âm? Nên
biết Bồ Tát lấy sự cứu khổ làm ḷng, lúc sanh sản, tuy
lơa lồ không sạch, nhưng đó là việc dĩ nhiên, không phải
ḿnh tự ư buông lung, nên niệm đă không có tội lỗi, mà
lại khiến cho mẹ con sản phụ gieo trồng căn lành. Nghĩa
nầy trong Kinh Dược Sư đă có nói, không phải tự tôi đưa
ra điều ức kiến. Ấn Quang nầy chỉ là người đề xướng mà
thôi.
- 10 -
Người nữ từ mười
hai, mười ba tuổi đến bốn mươi tám, bốn mươi chín tuổi
đều có nguyệt kinh. Có kẻ bảo: trong lúc nguyệt kinh,
chẳng nên lễ bái tŕ tụng. Lời này rất không hợp t́nh
lư. Thời kỳ có kinh, mau th́ hai ba ngày, lâu đến sáu
bảy ngày mới dứt; người tu tŕ cần phải niệm Phật không
xen hở, đâu nên v́ một chút bệnh nhỏ thiên nhiên mà bỏ
lăng thời tu niệm ư? Khi có nguyệt kinh chỉ nên lễ bái
ít (lễ bái ít chớ chẳng phải tuyệt nhiên không lạy), c̣n
sự tụng kinh, niệm Phật đều chiếu theo lệ thường. Nên
thường thay giặt vải dơ, phải rửa tay cho sạch sẽ, đừng
dùng tay dơ mà lần chuỗi, lật kinh và đốt hương. Trong
Phật Pháp, pháp pháp đều viên thông, hàng ngoại đạo chỉ
chấp một bên lư, người đời phần nhiều lại ưa tin lời
ngoại đạo, không rơ chánh lư Phật giáo, nên không được
thấm nhuần pháp lợi.
- 11 -
Quán Thế Âm Bồ Tát
thệ nguyện rộng sâu, t́m tiếng cứu khổ. Khi gặp những
tai nạn: đao binh, nước lửa, đói kém, cào cào, ôn dịch,
khô hạn, cướp bóc, oan gia, thú dữ, rắn độc, ác quỷ, yêu
mị, nghiệp binh, kẻ tiểu nhơn hăm hại v.v... nếu phát
tâm sửa lỗi làm lành, lợi ḿnh lợi người, chí thành khẩn
thiết niệm Quán Thế Âm không xen hở th́ quyết định sẽ
được nhờ sức từ bi ủng hộ tránh khỏi tai nguy. Nếu vẫn
c̣n giữ ḷng bất thiện, dù có xưng niệm, chẳng qua là
gieo chút căn lành về sau, không được sự cảm ứng hiện
tại, v́ chư Phật, Bồ Tát thành tựu niệm lành cho người,
tuyệt không thành tựu niệm ác cho người. Như không phát
tâm sửa lỗi làm lành, lầm lạc muốn đem công đức niệm
Phật, Bồ Tát, để cầu cho việc ác của ḿnh thành tựu th́
quyết không được cảm ứng. Rất không nên phát tâm điên
đảo ấy.
Đă niệm Phật, cần
phải giữ trọn nhơn luân, ǵn ḷng thành kính, dứt các
điều dữ, làm các việc lành, giữ ḷng tốt, nói lời tốt,
làm việc tốt. Việc nào ḿnh làm được th́ thiết thật mà
làm, như không làm được cũng nên phát ḷng lành ấy, hoặc
khuyên người có thế lực làm, hoặc thấy người làm sanh
tâm vui đẹp. Thốt lời khen ngợi việc lành cũng thuộc về
công đức của tâm và miệng. Nếu việc ḿnh không thể làm,
khi thấy người khác làm được mà sanh ḷng ganh ghét, đó
là tâm hạnh của kẻ tiểu nhơn. Như thế, quyết định phải
bị mất phước tổn thọ, không được kết quả tốt, cần để ư
răn chừa. Rất không nên giả mặt hiền lương để mua danh
chuốc lợi, tâm hạnh ấy quỷ thần đều ghét, có th́ mau
cải, không th́ nên cố gắng làm lành.
- 12 -
Có nhiều người nữ
v́ không rơ chánh lư, hoặc bất hiếu với cha mẹ chồng,
khi dễ chồng, quá cưng yêu chiều chuộng con, ngược đăi
tôi tớ, hoặc là mẹ ghẻ hiếp đáp, hành hạ con riêng của
chồng. Những người ấy đâu biết rằng: hiếu thảo với cha
mẹ chồng, kính trọng chồng, dạy dỗ con cái, ra ân huệ
cùng hàng tôi tớ, an ủi nuôi dạy con riêng của chồng,
chính là đạo thánh hiền ở thế gian mà cũng là phép tắc
đầu tiên của đạo Phật. Nếu có đủ công đức ấy mà tu Tịnh
Độ th́ quyết định danh dự thêm nhiều, phước thọ bền
vững, khi mạng chung được Phật tiếp dẫn về chín phẩm
sen. Nên biết đă có nhân phải có quả, nếu ta gieo nhân
hiếu kỉnh, từ ái, tự nhiên sẽ được quả hiếu kỉnh từ ái.
V́ người tức là v́ ḿnh, hại người c̣n quá hơn hại ḿnh,
cho nên mỗi người đều phải làm tṛn bổn phận, Phật trời
tất sẽ chứng tri.
- 13 -
Trẻ con khi vừa
khôn lớn, phải dạy cho chúng biết đạo lư hiếu, đễ,
trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ và việc ba đời nhân quả,
sáu nẻo luân hồi. Như thế là làm cho chúng hiểu tâm của
ḿnh cùng tâm chư Phật, Bồ Tát, trời đất, quỷ thần, mỗi
hơi thở thông nhau. Nếu khởi một niệm bất chánh, làm một
việc không phải th́ các vị ấy thảy đều biết, như đối
trước gương sáng, h́nh ảnh tốt xấu hiện ra rơ ràng,
không che giấu được. Đă hiểu như thế, tất nhiên chúng sẽ
sợ hăi, gắng sức làm lành. Chẳng luận người nào, dù là
con cái tôi tớ trong nhà cũng không nên đánh đập mắng
chửi thô tháo. Phải t́m cách khuyến hóa, khiến cho chúng
biết phụng thờ bậc trên, nhường thuận kẻ dưới, kính
trọng giấy chữ, chẳng xài phá cơm gạo, quần áo, của
tiền, yêu tiếc sanh mạng loài trùng kiến, không ăn vặt
vănh để khỏi mang bệnh. Nếu dạy được như thế, th́ một
ngày kia quyết định chúng sẽ thành người lương thiện.
Trái lại lúc con cháu c̣n thơ ấu, cha mẹ chẳng chịu dạy
dỗ, để mặc cho chúng buông lung, khi lớn lên nếu chúng
nó không là kẻ dung ngu, cũng là hàng phỉ loại. Chừng ấy
dù có ăn năn cũng vô ích. Lời xưa nói: 'Giáo phụ sơ lai,
giáo tử anh hài' (Dạy con dạy thuở c̣n thơ, dạy vợ dạy
lúc ban sơ mới về), tánh t́nh phần lớn là do ảnh hưởng
của tập quán, cho nên phải cẩn thận từ bước đầu tiên. Cá
nhân là phần tử của xă hội, trong thiên hạ b́nh yên hay
loạn lạc, cội nguồn đều do sự hiền lương hoặc bạo ác của
con người. Vậy những điều trên đây quan hệ, thiết yếu,
không phải tôi bàn luận chuyện vô ích, xa vời...
- 14 -
Ấn Quang tôi năm
nay đă quá già yếu, tinh thần mỗi ngày thêm suy kém,
không c̣n đủ sức để phúc đáp những bức thơ gởi đến. Chỉ
v́ sự lưu thông thuận tiện, nên xa gần lầm nghe chút hư
danh, gởi thơ hỏi đạo quá nhiều. Nếu tôi không đáp, vẫn
tự hơi có phụ ư người gởi; như mỗi mỗi đều phúc đáp,
thật ra cũng không đủ tinh thần. V́ thế, tôi cho in bức
thơ dài nầy để phúc đáp cùng khắp. Trong đây, những điều
quan hệ về sự tu tŕ, cách lập thân xử thế, đạo thờ cha
mẹ, dạy con cái, tôi đều nói lược qua. Về sau, ai đưa
tin đến hỏi đạo, tôi đều dùng thơ nầy phúc đáp, hoặc có
vài điều đặc biệt, cũng chỉ nên thêm đôi hàng nơi bức
thơ gởi đến mà thôi. Như thế, để cho đạo niệm đôi bên
được thông nhau, mà tôi cũng đỡ bớt sự nhọc mệt. Nếu vị
nào muốn hiểu suốt kinh nghĩa, xin thưa hỏi nơi các bậc
Pháp Sư dựng cao tràng pháp, Tông Giáo kiêm thông. Nhưng
nên biết, dù thông suốt kinh pháp, cũng chưa chắc được
thoát sanh tử. Muốn thoát sanh tử luân hồi, phải chú
trọng nơi sự tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương!
|