Nam Mô A Di Đà Phật

 

Home
Kinh -Sutra
Pháp Âm - Audio
H́nh - Photo
Làng Di Đà
Thỉnh Đỉa
Diển Đàn

 

 

 

 

 

Nam Mô Tây Phương Cực Lạc Thế Giới Thế

Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật

Lá Thư Tịnh Độ

Ấn Quang Đại Sư

Việt dịch: Ḥa Thượng Thích Thiền Tâm

 

 

Một bức thư phúc đáp khắp nơi

Lời văn tuy quê thuật, nhưng nghĩa lư vẫn căn cứ trong kinh

Nếu có ai y theo đây mà làm, sự lợi ích sẽ rộng lớn vô cùng!

Ấn Quang pháp sư

- 1 -

Pháp môn Tịnh Độ trùm khắp cả ba căn, gồm thâu hàng lợi độn, là đại pháp của đức Như Lai, để mở phương tiện cho tất cả thánh phàm đều được giải thoát sanh tử, lên ngôi Bất Thối ngay trong hiện đời. Với pháp mầu nhiệm đặc biệt nầy mà không tin không tu, thật là đáng thương, đáng tiếc!!

Pháp môn Tịnh Độ lấy tín, nguyện, hạnh làm tông chỉ.

Tín là ta phải tin cơi Ta Bà có vô lượng sự khổ; tin cơi Cực Lạc có vô lượng điều vui; tin ta là phàm phu đầy nghiệp lực, quyết không thể nương cậy vào sức ḿnh để dứt hoặc chứng chơn, thoát sanh tử ngay trong hiện đời; tin Phật A Di Đà có lời thề nguyền rộng lớn, nếu chúng sanh nào niệm danh hiệu Ngài, cầu về nước Ngài, khi mạng chung sẽ được Ngài tiếp dẫn văng sanh Cực Lạc.

Nguyện là ta nên nguyện mau ra khỏi thế giới nầy, nguyện sớm sanh về cơi vui kia.

Hạnh là ta phải chí thành khẩn thiết niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật, mỗi thời mỗi khắc đừng để tạm quên, tùy theo hoàn cảnh gấp hoăn lập một khóa tŕnh, sớm tối lễ bái tŕ tụng trước bàn Phật. Ngoài thời khóa tụng, những khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm những công việc không dụng tâm, đều nên niệm Phật. Lúc ngủ nghỉ phải niệm thầm, không nên ra tiếng và chỉ niệm bốn chữ A Di Đà Phật để dễ nhiếp tâm. Lại, những khi y phục không chỉnh tề, hoặc giặt rửa, tắm gội, đại tiểu tiện, cho đến lúc đi ngang qua chỗ không sạch sẽ, cũng đều phải niệm thầm. Chí tâm niệm thầm, công đức cũng đồng như niệm ra tiếng. Trong những lúc ấy nếu niệm ra tiếng th́ chẳng hợp nghi thức và có lỗi không cung kính. Không luận niệm lớn tiếng, nhỏ tiếng, niệm Kim Cang hoặc niệm thầm, đều phải trong tâm ghi nhớ rành rẽ rơ ràng, miệng niệm rành rẽ rơ ràng và hai tai nghe rành rẽ rơ ràng. Niệm như thế th́ tâm không c̣n dong ruổi theo cảnh ngoài, vọng tưởng lần dứt, câu niệm Phật lần thuần, công đức rất lớn.

- 2 -

Người niệm Phật phải hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, tâm từ bi không giết hại, tu mười nghiệp lành (Thân không sát sanh, trộm cướp, tà dâm; miệng không nói dối, nói thêu dệt, nói đôi chiều, nói hung ác; ư không tham dục, giận hờn, ngu si, tà kiến). Lại cần phải: cha lành, con thảo, anh em thương kính, chồng vợ thuận ḥa, chủ nhân, tớ trung, mỗi người đều giữ tṛn bổn phận. Ta chỉ nên làm hết nhiệm vụ ḿnh, đừng so đo phiền trách người khác đối với ḿnh có trọn cùng không. Nếu người nào đối với gia đ́nh xă hội làm tṛn thiên chức, đó là người lành. Người lành mà niệm Phật th́ dễ có cơ cảm, quyết định khi lâm chung được Phật tiếp dẫn sanh về Tây Phương v́ tâm hạnh hợp với Phật. Trái lại, những ai miệng tuy niệm Phật, song ḷng không nhiễm đạo, đối với cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bạn bè làng xóm không tṛn bổn phận th́ tâm hạnh trái với Phật, khó được văng sanh. Tại sao thế? Bởi người ấy tâm không điềm tịnh thuần ḥa, tự sanh ra mối năo phiền chướng ngại, nên khó được cảm thông với Phật, đó cũng là lẽ tất nhiên.

- 3 -

Người niệm Phật nên khuyên thân bằng quyến thuộc và tất cả đồng nhân đều niệm Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. (Mỗi ngày như niệm Phật 1.000 câu th́ niệm Quán Âm 500 câu, niệm Phật 10.000 câu th́ niệm Quán Âm 5.000 câu. Niệm nhiều ít so theo đây mà gia giảm). Ta đă t́m được con đường giải thoát yên ổn, lại nỡ nào để cho đấng sanh thành, người quyến thuộc cùng tất cả đồng nhân mất sự lợi ích lớn, ch́m trong biển khổ ư? Huống chi giữa cơi đời nhiều hoạn nạn, khó tránh sự hiểm nguy như hiện nay, nếu có thể thường niệm Phật và Quán Âm, tất sẽ được lượng từ bi ủng hộ, gặp dữ hóa lành. Giả sử không tai nạn mà chí tâm tŕ niệm, cũng sẽ được nghiệp tiêu trí sáng, chướng hết phước nhiều. Hơn nữa, khuyên người niệm Phật cầu sanh Tây Phương, tức là thành tựu kẻ phàm phu làm Phật, công đức rất lớn, đem công đức ấy hồi hướng văng sanh tất sẽ măn nguyện.

- 4 -

Người niệm Phật khi tụng kinh, tŕ chú, lễ bái, sám hối, cứu tai nạn, giúp kẻ nghèo, tất cả công đức lành đều phải hồi hướng văng sanh Tây Phương, không nên cầu hưởng phước báo ở cơi trời, cơi người, trong hiện tại hoặc đời sau. Nếu có tâm niệm ấy th́ mất phần văng sanh và phải bị ch́m đắm trong biển luân hồi khổ năo. Nên biết, hưởng phước càng nhiều tất gây nghiệp càng lớn, qua một đời sau nữa quyết khó khỏi đọa vào đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Chừng ấy muốn trở lại làm thân người, được nghe pháp hiện đời giải thoát của môn Tịnh Độ, c̣n khó hơn lên trời. Phật dạy chúng sanh niệm Phật cầu về Tây Phương, là v́ chúng sanh mà giải quyết vấn đề sanh tử ngay trong hiện kiếp. Nếu chỉ cầu đời sau hưởng phước báo ở cơi nhân thiên tức là trái với lời Phật dạy, như đem hạt bảo châu vô giá đổi lấy một thẻ đường để ăn, há chẳng đáng tiếc lắm ư? Kẻ tối tăm niệm Phật không cầu văng sanh mà cầu hưởng phước báo, cũng như đây không khác.

- 5 -

Người niệm Phật không nên tập theo lối tham cứu của nhà tu Thiền. V́ kẻ tu Thiền hầu hết đều không chú trọng về việc tín nguyện văng sanh. Dù có niệm Phật, họ chỉ chú trọng vào câu 'Niệm Phật đó là ai?' để cầu khai ngộ mà thôi. Ta chỉ nên niệm Phật cầu sanh Tây Phương, khi được thấy đức A Di Đà lo ǵ không khai ngộ? Nếu ở cơi này tu Thiền, như hoặc nghiệp dứt hết th́ có thể thoát sanh tử; thảng như hoặc nghiệp chưa dứt th́ đă không thể cậy vào sức ḿnh để giải thoát, lại v́ không tín nguyện nên không được nương nhờ sức Phật ra khỏi luân hồi. Hai bên tự lực và Phật lực đều không nhờ cậy được, người ấy đâu thể nào thoát khỏi trần lao? Nên biết bậc pháp thân Bồ Tát khi chưa thành Phật đều phải nhờ oai lực của Phật, huống chi ta là phàm phu đầy nghiệp chướng mà ưa luận về sức ḿnh, không cầu sức Phật ư? Lời ấy tuy cao, song xét lại hành vi thật là thấp kém! Sự hơn kém của Phật lực và tự lực khác xa nhau như trời vực, nguyện đồng nhân nên thể tất nghĩa nầy!

- 6 -

Người niệm Phật không nên bắt chước kẻ ngu tối, làm những việc hoàn thọ sanh, gởi kho. Bởi sự hoàn thọ sanh trong Kinh Phật không có nói, do người sau bày đặt ra. C̣n gởi kho là muốn cho ḿnh khi chết rồi thành quỷ, nên mới sắm trước tiền của đồ vật cho thân quỷ dùng. Đă có tâm niệm muốn làm quỷ th́ khó được văng sanh. Như người nào chưa làm th́ thôi, nếu đă làm, phải bạch rơ trước bàn Phật như vầy: 'Đệ tử là... chỉ cầu văng sanh, những đồ minh khố đă gởi khi trước, xin đem chẩn tế cho cô hồn.' Như thế mới không chướng ngại cho sự sanh về cơi Phật.

Lại những thứ kinh: Thọ Sanh, Huyết Bồn, Thái Dương, Thái Âm, Nhăn Quang, Táo Vương, Thai Cốt, Phân Châu, Diệu Sa... đều là kinh ngụy tạo, không phải kinh của Phật nói, không nên tŕ tụng. Những kẻ quê tối, không chịu tụng Kinh Đại Thừa (như các kinh: A Di Đà, Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Tâm Kinh, Kim Cang, Pháp Hoa, Dược Sư, Lăng Nghiêm, Hoa Nghiêm, Phổ Hiền Hạnh Nguyện Phẩm v.v...) mà chỉ tin các thứ kinh ngụy tạo ấy, muốn làm những việc hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ, mới yên tâm. Nếu có người hiểu Phật Pháp khuyên bảo nói đó là những kinh ngụy tạo, họ cũng không nghe lời. Nên biết, làm các Phật sự, chỉ có niệm Phật là công đức rộng lớn, nên đem số tiền hoàn thọ sanh, phá địa ngục, phá huyết hồ ấy, thỉnh những vị tăng chơn chánh niệm Phật cho th́ được lợi ích rất nhiều.

- 7 -

Người niệm Phật nên ăn chay trường, như chưa được thế, th́ giữ lục trai hoặc thập trai, để lần lần bỏ hẳn các thứ thịt của chúng sanh, mới là hợp lư. Lục trai là các ngày: mùng 8, 14, 15, 23, 29, 30; nếu thêm vào đó mấy ngày: mùng 1, 18, 24, 28 th́ thành ngày thập trai. Những tháng thiếu, nên ăn trước một ngày. Lại, tháng giêng, tháng năm, tháng chín là ba trai nguyệt, nên ăn chay trường và làm các việc công đức. Dù chưa ăn chay được, cũng nên mua thịt cá đă làm sẵn, chớ sát sanh trong nhà. Nếu mỗi ngày sát sanh th́ cái nhà ấy đă thành ḷ sát sanh, là chỗ oan quỷ tụ hội, không được an lành. Cho nên sát sanh trong nhà là điều rất cấm kỵ.

- 8 -

Người niệm Phật nên khuyên cha mẹ niệm Phật cầu sanh Tây Phương. Muốn cho cha mẹ khi lâm chung quyết định được văng sanh th́ phải dặn trước người quyến thuộc về cách trợ niệm và chớ nên khóc lóc cùng bày vẽ những điều vô ích. Lại, lúc b́nh thời phải v́ cha mẹ giảng rơ sự lợi ích của môn niệm Phật khiến cho song thân thường niệm không quên. Thế th́ chẳng những cha mẹ được lợi ích, mà quyến thuộc hiện tại hoặc con cháu đời sau cũng được ảnh hưởng giải thoát an lành. Về phương pháp trợ niệm khi lâm chung, không luận già trẻ, đều phải làm đúng như thế.

- 9 -

Người nữ khi sắp sanh thường bị đau khổ không kham, có khi vài ngày sanh không được, hoặc chết v́ sản nạn. Có người tuy sanh được nhưng lại bị huyết băng và nhiều bệnh nguy hiểm. Đứa con sanh ra th́ bị các chứng cấp nạn, kinh phong v.v... Cho nên, người nữ lúc sanh sản, nên chí thành khẩn thiết niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Khi niệm cần phải to tiếng, không nên niệm thầm, v́ niệm thầm do tâm lực kém nên sức cảm ứng cũng kém. Lại trong lúc ấy sản phụ đang dùng sức sanh đứa bé ra, nếu niệm thầm th́ nín ép hơi phải mang bệnh. Nếu chí thành khẩn thiết mà niệm, quyết không có sự đau đớn, khó sanh, huyết băng, đứa con sẽ khỏi bệnh kinh phong, và các chứng nguy hiểm khác. Dù gặp trường hợp khó sanh, có nguy hiểm đến tánh mạng, sản phụ cùng những kẻ hộ sanh cũng phải đồng to tiếng niệm Quán Âm. Người quyến thuộc tuy ở nơi khác đều phải v́ sản phụ niệm giúp. Như thế, không đầy giây phút, sản phụ liền được yên ổn mà sanh. Kẻ ngoại đạo không rơ lư nầy, chấp chặt một việc cung kính, chẳng biết căn cứ theo sự mà luận lư, khiến cho mấy bà lăo niệm Phật xem sanh sản là việc đáng sợ, cho đến dâu con của ḿnh sanh cũng không dám qua săn sóc, huống chi là niệm Quán Âm? Nên biết Bồ Tát lấy sự cứu khổ làm ḷng, lúc sanh sản, tuy lơa lồ không sạch, nhưng đó là việc dĩ nhiên, không phải ḿnh tự ư buông lung, nên niệm đă không có tội lỗi, mà lại khiến cho mẹ con sản phụ gieo trồng căn lành. Nghĩa nầy trong Kinh Dược Sư đă có nói, không phải tự tôi đưa ra điều ức kiến. Ấn Quang nầy chỉ là người đề xướng mà thôi.

- 10 -

Người nữ từ mười hai, mười ba tuổi đến bốn mươi tám, bốn mươi chín tuổi đều có nguyệt kinh. Có kẻ bảo: trong lúc nguyệt kinh, chẳng nên lễ bái tŕ tụng. Lời này rất không hợp t́nh lư. Thời kỳ có kinh, mau th́ hai ba ngày, lâu đến sáu bảy ngày mới dứt; người tu tŕ cần phải niệm Phật không xen hở, đâu nên v́ một chút bệnh nhỏ thiên nhiên mà bỏ lăng thời tu niệm ư? Khi có nguyệt kinh chỉ nên lễ bái ít (lễ bái ít chớ chẳng phải tuyệt nhiên không lạy), c̣n sự tụng kinh, niệm Phật đều chiếu theo lệ thường. Nên thường thay giặt vải dơ, phải rửa tay cho sạch sẽ, đừng dùng tay dơ mà lần chuỗi, lật kinh và đốt hương. Trong Phật Pháp, pháp pháp đều viên thông, hàng ngoại đạo chỉ chấp một bên lư, người đời phần nhiều lại ưa tin lời ngoại đạo, không rơ chánh lư Phật giáo, nên không được thấm nhuần pháp lợi.

- 11 -

Quán Thế Âm Bồ Tát thệ nguyện rộng sâu, t́m tiếng cứu khổ. Khi gặp những tai nạn: đao binh, nước lửa, đói kém, cào cào, ôn dịch, khô hạn, cướp bóc, oan gia, thú dữ, rắn độc, ác quỷ, yêu mị, nghiệp binh, kẻ tiểu nhơn hăm hại v.v... nếu phát tâm sửa lỗi làm lành, lợi ḿnh lợi người, chí thành khẩn thiết niệm Quán Thế Âm không xen hở th́ quyết định sẽ được nhờ sức từ bi ủng hộ tránh khỏi tai nguy. Nếu vẫn c̣n giữ ḷng bất thiện, dù có xưng niệm, chẳng qua là gieo chút căn lành về sau, không được sự cảm ứng hiện tại, v́ chư Phật, Bồ Tát thành tựu niệm lành cho người, tuyệt không thành tựu niệm ác cho người. Như không phát tâm sửa lỗi làm lành, lầm lạc muốn đem công đức niệm Phật, Bồ Tát, để cầu cho việc ác của ḿnh thành tựu th́ quyết không được cảm ứng. Rất không nên phát tâm điên đảo ấy.

Đă niệm Phật, cần phải giữ trọn nhơn luân, ǵn ḷng thành kính, dứt các điều dữ, làm các việc lành, giữ ḷng tốt, nói lời tốt, làm việc tốt. Việc nào ḿnh làm được th́ thiết thật mà làm, như không làm được cũng nên phát ḷng lành ấy, hoặc khuyên người có thế lực làm, hoặc thấy người làm sanh tâm vui đẹp. Thốt lời khen ngợi việc lành cũng thuộc về công đức của tâm và miệng. Nếu việc ḿnh không thể làm, khi thấy người khác làm được mà sanh ḷng ganh ghét, đó là tâm hạnh của kẻ tiểu nhơn. Như thế, quyết định phải bị mất phước tổn thọ, không được kết quả tốt, cần để ư răn chừa. Rất không nên giả mặt hiền lương để mua danh chuốc lợi, tâm hạnh ấy quỷ thần đều ghét, có th́ mau cải, không th́ nên cố gắng làm lành.

- 12 -

Có nhiều người nữ v́ không rơ chánh lư, hoặc bất hiếu với cha mẹ chồng, khi dễ chồng, quá cưng yêu chiều chuộng con, ngược đăi tôi tớ, hoặc là mẹ ghẻ hiếp đáp, hành hạ con riêng của chồng. Những người ấy đâu biết rằng: hiếu thảo với cha mẹ chồng, kính trọng chồng, dạy dỗ con cái, ra ân huệ cùng hàng tôi tớ, an ủi nuôi dạy con riêng của chồng, chính là đạo thánh hiền ở thế gian mà cũng là phép tắc đầu tiên của đạo Phật. Nếu có đủ công đức ấy mà tu Tịnh Độ th́ quyết định danh dự thêm nhiều, phước thọ bền vững, khi mạng chung được Phật tiếp dẫn về chín phẩm sen. Nên biết đă có nhân phải có quả, nếu ta gieo nhân hiếu kỉnh, từ ái, tự nhiên sẽ được quả hiếu kỉnh từ ái. V́ người tức là v́ ḿnh, hại người c̣n quá hơn hại ḿnh, cho nên mỗi người đều phải làm tṛn bổn phận, Phật trời tất sẽ chứng tri.

- 13 -

Trẻ con khi vừa khôn lớn, phải dạy cho chúng biết đạo lư hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ và việc ba đời nhân quả, sáu nẻo luân hồi. Như thế là làm cho chúng hiểu tâm của ḿnh cùng tâm chư Phật, Bồ Tát, trời đất, quỷ thần, mỗi hơi thở thông nhau. Nếu khởi một niệm bất chánh, làm một việc không phải th́ các vị ấy thảy đều biết, như đối trước gương sáng, h́nh ảnh tốt xấu hiện ra rơ ràng, không che giấu được. Đă hiểu như thế, tất nhiên chúng sẽ sợ hăi, gắng sức làm lành. Chẳng luận người nào, dù là con cái tôi tớ trong nhà cũng không nên đánh đập mắng chửi thô tháo. Phải t́m cách khuyến hóa, khiến cho chúng biết phụng thờ bậc trên, nhường thuận kẻ dưới, kính trọng giấy chữ, chẳng xài phá cơm gạo, quần áo, của tiền, yêu tiếc sanh mạng loài trùng kiến, không ăn vặt vănh để khỏi mang bệnh. Nếu dạy được như thế, th́ một ngày kia quyết định chúng sẽ thành người lương thiện. Trái lại lúc con cháu c̣n thơ ấu, cha mẹ chẳng chịu dạy dỗ, để mặc cho chúng buông lung, khi lớn lên nếu chúng nó không là kẻ dung ngu, cũng là hàng phỉ loại. Chừng ấy dù có ăn năn cũng vô ích. Lời xưa nói: 'Giáo phụ sơ lai, giáo tử anh hài' (Dạy con dạy thuở c̣n thơ, dạy vợ dạy lúc ban sơ mới về), tánh t́nh phần lớn là do ảnh hưởng của tập quán, cho nên phải cẩn thận từ bước đầu tiên. Cá nhân là phần tử của xă hội, trong thiên hạ b́nh yên hay loạn lạc, cội nguồn đều do sự hiền lương hoặc bạo ác của con người. Vậy những điều trên đây quan hệ, thiết yếu, không phải tôi bàn luận chuyện vô ích, xa vời...

- 14 -

Ấn Quang tôi năm nay đă quá già yếu, tinh thần mỗi ngày thêm suy kém, không c̣n đủ sức để phúc đáp những bức thơ gởi đến. Chỉ v́ sự lưu thông thuận tiện, nên xa gần lầm nghe chút hư danh, gởi thơ hỏi đạo quá nhiều. Nếu tôi không đáp, vẫn tự hơi có phụ ư người gởi; như mỗi mỗi đều phúc đáp, thật ra cũng không đủ tinh thần. V́ thế, tôi cho in bức thơ dài nầy để phúc đáp cùng khắp. Trong đây, những điều quan hệ về sự tu tŕ, cách lập thân xử thế, đạo thờ cha mẹ, dạy con cái, tôi đều nói lược qua. Về sau, ai đưa tin đến hỏi đạo, tôi đều dùng thơ nầy phúc đáp, hoặc có vài điều đặc biệt, cũng chỉ nên thêm đôi hàng nơi bức thơ gởi đến mà thôi. Như thế, để cho đạo niệm đôi bên được thông nhau, mà tôi cũng đỡ bớt sự nhọc mệt. Nếu vị nào muốn hiểu suốt kinh nghĩa, xin thưa hỏi nơi các bậc Pháp Sư dựng cao tràng pháp, Tông Giáo kiêm thông. Nhưng nên biết, dù thông suốt kinh pháp, cũng chưa chắc được thoát sanh tử. Muốn thoát sanh tử luân hồi, phải chú trọng nơi sự tín nguyện niệm Phật cầu sanh Tây Phương!

 

 

 

Home | Kinh -Sutra | Pháp Âm - Audio | H́nh - Photo | Làng Di Đà | Thỉnh Đỉa | Diển Đàn

This site was last updated 10/08/08